Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Thắng (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:05' 07-07-2009
Dung lượng: 82.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Thắng (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:05' 07-07-2009
Dung lượng: 82.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
SỐ 20-LCT NGÀY 26-7-1960
CÔNG BỐ LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Căn cứ vào Điều 63 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
NAY CÔNG BỐ:
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 15 tháng 7 năm 1960.
LUẬT
TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Căn cứ vào Điều 105 và Điều 106, chương VIII của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Luật này quy định tổ chức các Viện kiểm sát nhân dân.
CHƯƠNG I
NGUYÊN TẮC CHUNG
Điều 1
Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.
Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.
Điều 2
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững.
Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi.
Điều 3
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách:
A) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước và của công dân.
B) Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự.
C) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác;
D) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Toà án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án;
E) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam;
G) Khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Điều 4
Các Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương. Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ vào đặc điểm tình hình của các khu tự trị mà tổ chức Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp trong khu tự trị.
Tổ chức Viện kiểm sát quân sự các cấp do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định riêng căn cứ vào những nguyên tắc tổ chức Viện kiểm sát nhân dân định trong luật này.
Điều 5
Khi làm nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân phải theo nguyên tắc mọi người công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, nòi giống, tôn giáo, tín ngưỡng, địa vị xã hội và thành phần xã hội.
Điều 6
Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp làm nhiệm vụ của mình một cách độc lập, các cơ quan Nhà nước khác không được can thiệp.
Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 7
Viện kiểm sát nhân dân có Viện trưởng, một hoặc nhiều Phó Viện trưởng và các kiểm sát viên. Ngoài thành phần trên đây, Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn có một số kiểm sát viên dự khuyết.
Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc các đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân khu tự trị,
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
SỐ 20-LCT NGÀY 26-7-1960
CÔNG BỐ LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Căn cứ vào Điều 63 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
NAY CÔNG BỐ:
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 15 tháng 7 năm 1960.
LUẬT
TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Căn cứ vào Điều 105 và Điều 106, chương VIII của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Luật này quy định tổ chức các Viện kiểm sát nhân dân.
CHƯƠNG I
NGUYÊN TẮC CHUNG
Điều 1
Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.
Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.
Điều 2
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững.
Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi.
Điều 3
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách:
A) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước và của công dân.
B) Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự.
C) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác;
D) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Toà án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án;
E) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam;
G) Khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Điều 4
Các Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương. Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ vào đặc điểm tình hình của các khu tự trị mà tổ chức Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp trong khu tự trị.
Tổ chức Viện kiểm sát quân sự các cấp do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định riêng căn cứ vào những nguyên tắc tổ chức Viện kiểm sát nhân dân định trong luật này.
Điều 5
Khi làm nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân phải theo nguyên tắc mọi người công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, nòi giống, tôn giáo, tín ngưỡng, địa vị xã hội và thành phần xã hội.
Điều 6
Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp làm nhiệm vụ của mình một cách độc lập, các cơ quan Nhà nước khác không được can thiệp.
Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 7
Viện kiểm sát nhân dân có Viện trưởng, một hoặc nhiều Phó Viện trưởng và các kiểm sát viên. Ngoài thành phần trên đây, Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn có một số kiểm sát viên dự khuyết.
Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc các đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân khu tự trị,
 








Các ý kiến mới nhất